Liên đại Hadean (0-50 triệu năm tuổi)
Trong các bài viết trước, chúng ta đã cùng nhau thảo luận về sự hình thành và phát triển của vũ trụ, các thiên hà, những ngôi sao và hệ Mặt Trời của chúng ta. Tiếp tục theo dòng sự kiện này, bây giờ chúng ta hãy cùng nhau quay ngược thời gian để trở về quá khứ và khám phá lịch sử của Trái Đất – một ngôi nhà nhỏ bé nằm ở một thị trấn ngoại ô của Dải Ngân Hà từ hơn 4,5 tỷ năm trước – đi kèm với một gã hàng xóm ồn ào ở gần đó.
1. Điểm khởi đầu
Như chúng ta đã cùng nhau thảo luận trong bài viết Nguồn gốc của hệ Mặt Trời, “cái nôi” đã khai sinh và nuôi dưỡng cả Mặt Trời và các hành tinh xung quanh nó chính là tinh vân mặt trời (Solar Nebula). Dưới tác dụng của trọng lực, nó bắt đầu co lại và quay nhanh hơn, tạo thành một đĩa tiền hành tinh (Protoplanetary Disk) dạng phẳng bao quanh Mặt Trời non trẻ.
Lúc này, các hạt bụi nhanh chóng kết hợp lại, dần dần tạo thành các tiểu hành tinh – những khối vật chất có đường kính từ vài km đến vài chục km. Dần dần, một số tiểu hành tinh đã phát triển lên một kích thước đủ lớn. Chúng bắt đầu sử dụng lực hấp dẫn để “lôi cuốn” các tiểu hành tinh lân cận và phát triển lên một kích thước lớn hơn nữa thông qua quá trình bồi tụ.
Lâu dần, hệ Mặt Trời đã có cho mình hàng chục trung tâm bồi tụ nằm rải rác ở bên trong. Mỗi trung tâm này đều cố gắng hút lấy vật chất xung quanh cho đến khi đạt được khối lượng tương tự như sao Thủy hoặc sao Hỏa. Ở giai đoạn này, chúng ta có thể coi những vật thể này là các tiền hành tinh.
Tuy nhiên, các tiền hành tinh này vẫn muốn mình phải trở nên to lớn hơn nữa. Những hành tinh non trẻ này tiếp tục phát triển nhờ sự bồi tụ của các tiểu hành tinh – chúng sẽ được tăng tốc bởi lực hấp dẫn của các hành tinh sơ khai và va chạm với mức năng lượng đủ để làm tan chảy chính nó và vật chất xung quanh khu vực va chạm. Chẳng mấy chốc, toàn bộ các hành tinh non trẻ này đã bị nung nóng lên đến nhiệt độ cao hơn nhiệt độ nóng chảy của đá. Kết quả của quá trình này là kim loại nặng hơn (chẳng hạn như sắt) sẽ chìm xuống lõi và các vật liệu silicat nhẹ hơn sẽ nổi lên trên bề mặt. Quá trình này đã dẫn đến sự phân tách giữa lớp phủ nguyên thủy và lõi kim loại chỉ 10 triệu năm sau khi Trái Đất bắt đầu hình thành, tạo ra một cấu trúc phân lớp và thiết lập nên từ trường của Trái Đất. Bên cạnh đó, khi bị nung nóng, các hành tinh sơ khai sẽ mất đi một số loại khí nhẹ hơn và để lại nhiều nguyên tố cũng như hợp chất nặng hơn.
Từ vô số các mảnh vụn rải rác, Trái Đất được “tạo hình” khá nhanh chóng trong khoảng 1 triệu năm. Trong khoảng 100.000 năm sau đó, Trái Đất đã đạt được đến kích thước hiện tại nhờ vào các vụ “bắn phá” vô cùng dữ dội đến từ các tiểu hành tinh xung quanh, va chạm với Trái Đất và bị nuốt chửng hoàn toàn.

Trong thời kỳ hỗn loạn này, Trái Đất hiện lên là một quả cầu đen đặc và nóng chảy. Bề mặt của hành tinh có rất nhiều các vết nứt đỏ rực ngoằn ngoèo, các ngọn núi lửa magma cao chót vót và những trận mưa thiên thạch không ngừng nghỉ. Và khi những “hạt mưa” khổng lồ này đi tới bề mặt, chúng sẽ phá vỡ toàn bộ bề mặt hành tinh và biến nó trở thành một khối đá nóng chảy đỏ rực. Tuy nhiên, không gian xung quanh lại rất lạnh. Do đó, sau mỗi vụ va chạm, bề mặt Trái đất sẽ nhanh chóng nguội đi và tạo thành màu đen đặc. Và khoảng thời gian này đã được các nhà khoa học đặt tên là kỷ Hadean, một cái tên bắt nguồn từ Hades – một vị thần cai quản địa ngục trong thần thoại Hy Lạp nhằm ám chỉ đến những điều kiện khắc nghiệt như địa ngục đang diễn ra trên Trái Đất thời kỳ đầu.
2. Sự ra đời của Mặt Trăng
Câu chuyện về nguồn gốc của Trái Đất dường như khá đơn giản ngoại trừ một chi tiết rất nổi bật: Mặt Trăng. Vậy thì tại sao chúng ta lại phải đặt câu hỏi về Mặt Trăng?
Đầu tiên, chúng ta hãy xem xét các mặt trăng của những hành tinh khác trong hệ Mặt Trời. Phobos và Deimos, hai tảng đá có kích thước gần bằng một thành phố quay xung quanh sao Hỏa dường như có nguồn gốc là các tiểu hành tinh. Hàng chục mặt trăng quay quanh Sao Mộc, Sao Thổ, Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương đều rất nhỏ so với các hành tinh chủ của chúng. Ngược lại, Mặt Trăng của Trái Đất lại tương đối lớn so với hành tinh mà nó quay quanh: nó có đường kính bằng ¼ Trái Đất và có khối lượng bằng 1/81 Trái Đất. Không có cặp hành tinh – vệ tinh nào khác trong hệ Mặt Trời của chúng ta có tỷ lệ khối lượng cao hơn 1:4000. Vậy thì sự bất thường này đến từ đâu?
Trong suốt từ những năm 1969 đến năm 1972, sau sáu lần đổ bộ lên Mặt Trăng, chương trình Apollo 11, 12, 14, 15, 16 và 17 đã thu thập được 382 kg mẫu vật, bao gồm 2.200 các mẫu vật riêng lẻ. Dựa vào các dữ liệu này, các nhà khoa học đã nhận ra một số điểm đặc biệt sau
Đầu tiên, các khoáng chất trên bề mặt của Mặt Trăng và Trái Đất là tương đối giống nhau, mặc dù cũng có một điểm khác biệt khá đáng chú ý: Mật độ của Mặt Trăng thấp hơn nhiều so với Trái Đất. Nó không có lõi kim loại được làm từ sắt đậm đặc. Lõi Trái Đất chiếm gần ⅓ khối lượng của nó, nhưng lõi của Mặt trăng chỉ chiếm chưa đến 3% khối lượng của nó.
Thứ hai, đá của Mặt trăng không mang theo dấu vết của các nguyên tố dễ bay hơi. Nitơ, cacbon, lưu huỳnh và hydro rất phổ biến trên bề mặt của Trái Đất lại không xuất hiện ở trên Mặt Trăng. Điều này có nghĩa là phải có một thứ gì đó đã nung nóng Mặt Trăng để loại bỏ những hợp chất này vì ngày nay, bề mặt của Mặt Trăng là một nơi vô cùng cằn cỗi.
Thứ ba, hàm lượng của các đồng vị oxy trên Mặt Trăng rất đặc biệt. Hơn 99,7% nguyên tử oxy trong vũ trụ có 8 neutron (8 proton cộng với 8 neutron tạo ra một đồng vị oxy-16), trong khi các đồng vị hiếm hơn có 9 hoặc 10 neutron (oxy-17 và oxy-18) chiếm 1%. Oxy-16, oxy-17 và oxy-18 gần như giống hệt nhau về tính chất hóa học nhưng chúng có khối lượng khác nhau: Oxy-18 nặng hơn oxy-17 và oxy-17 nặng hơn oxy 16. Hóa ra, tỷ lệ oxy-16 so với oxy-18 thay đổi từ hành tinh này sang hành tinh khác và rất nhạy cảm với khoảng cách giữa hành tinh chứa nó với Mặt Trời. Và các mẫu vật đã tiết lộ rằng tỷ lệ đồng vị oxi của Mặt Trăng khá giống với Trái Đất. Nói theo cách khác, Trái Đất và Mặt Trăng phải được hình thành ở cùng một khoảng cách so với Mặt trời
Như vậy, những manh mối bên trên đã đưa chúng ta đi đến một kết luận: Mặt Trăng và Trái Đất là khá giống nhau. Và để giải thích được sự “kỳ lạ” này, sau đây là những phỏng đoán tốt nhất của chúng ta
Khoảng 4,5 tỷ năm trước, khi Hệ Mặt Trời được khoảng 50 triệu năm tuổi, Trái Đất và một đối thủ cạnh tranh có tên là Theia (được đặt theo tên của nữ thần Titan đã sinh ra Mặt Trăng) có kích thước nhỏ hơn một chút đang di chuyển trên cùng một quỹ đạo. Và đương nhiên, một quy luật bất di bất dịch là hai hành tinh riêng lẻ không thể chia sẻ cùng một quỹ đạo. Chúng buộc phải va chạm và hành tinh lớn hơn sẽ là kẻ chiến thắng.

Có rất nhiều mô phỏng máy tính đã được thực hiện để tìm hiểu cách mà Mặt Trăng đã được hình thành như thế nào nhưng nhìn chung, Theia đã bị bốc hơi thành một đám mây khổng lồ có nhiệt độ lên đến hàng chục nghìn độ bao quanh Trái Đất. Bên cạnh đó, Theia cũng đã “cướp đi” một phần vật chất bên trong lớp vỏ và lớp phủ của Trái Đất và trộn lẫn hỗn hợp này với vật chất tàn dư ở xung quanh. Từ đây, kim loại đậm đặc ở bên trong lõi của hai thế giới trộn lẫn với nhau, nguội dần và chìm xuống, từ đó tạo nên một lõi mới hơn và lớn hơn cho Trái Đất. Trong vòng vài ngày hoặc vài tuần, Trái Đất đã trải qua những trận mưa silicat bỏng rát màu cam và được hòa vào một đại dương magma đỏ rực đến tận chân trời. Cuối cùng, Trái Đất đã “đánh chén” phần lớn khối lượng của Theia.
Tuy nhiên, Trái Đất vẫn bị bao quanh bởi một lượng lớn các mảnh đá sau va chạm, chủ yếu là một hỗn hợp vật chất đến từ lớp vỏ của hai hành tinh. Và đây chính là những nguyên liệu cần thiết để giúp chúng ta có thể “đục đẽo” nên Mặt Trăng. Nhưng chính xác thì quá trình bồi tụ những mảnh vỡ còn sót lại này diễn ra ở đâu?
Đối với mọi vật thể trong vũ trụ nói chung và Trái Đất của chúng ta nói riêng, tất cả đều có một quả cầu vô hình xung quanh được gọi là giới hạn Roche. Khi một vật thể tiến vào bên trong giới hạn này, lực hấp dẫn sẽ là quá lớn và sẽ “xé nát” bất kỳ thứ gì dám “cả gan” di chuyển vào phạm vi này. Đó là lý do mà sao Thổ đã có được cho mình một hệ thống vành đai rộng lớn trong phạm vi khoảng 87.000 km tính từ bề mặt của nó: Lực hấp dẫn của sao Thổ đã ngăn chặn các hạt vật chất kết hợp lại để tạo thành các mặt trăng lớn hơn.

Nếu bắt đầu từ tâm, giới hạn Roche của Trái đất sẽ rơi vào khoảng 19.900 km hay khoảng 13.529 km tính từ bề mặt. Vì vậy, chắc chắn Mặt Trăng đã được hợp thành ở ngoài khoảng cách này: Khi Mặt Trăng mới được hình thành, khoảng cách của nó tới Trái Đất rơi vào khoảng 24.000 km.
Như vậy, vụ va chạm này đã phần nào lý giải được những điểm đặc biệt của Mặt Trăng: Mặt Trăng thiếu lõi sắt vì phần lớn sắt của Theia đã nằm ở bên trong Trái Đất. Mặt Trăng thiếu đi những chất dễ bay hơi vì những chất này trên Theia đã bị thổi bay trong quá trình va chạm. Và cú va chạm này cũng đã làm cho trục của Trái Đất nghiêng đi khoảng 23o.
3. Ảnh hưởng của Mặt Trăng tới Trái Đất
Ngày nay, vào mỗi tối, bất cứ ai cũng đều có thể nhìn thấy Mặt Trăng đang treo lủng lẳng ở trên đầu và không ảnh hưởng nhiều lắm đến chúng ta – ngoại trừ thuỷ triều và làm cho bầu trời đêm trở nên đỡ tăm tối và thú vị hơn. Tuy nhiên, sự ra đời của Mặt Trăng thực sự là một cột mốc rất quan trọng trong lịch sử của Trái Đất. Cách đây rất lâu, Mặt Trăng đã có một tầm ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với môi trường trên bề mặt hành tinh của chúng ta.
Ban đầu, khi mới hình thành, Mặt Trăng chỉ cách bề mặt Trái Đất khoảng 24.000 km. Ngày nay, khoảng cách này lên đến 384.400 km. Các con số này dường như đang chỉ ra rằng, Mặt Trăng đang cố gắng “chạy” ra xa khỏi Trái Đất – một điều dường như khó có thể xảy ra. Nhưng các con số đã không nói dối. Các phi hành gia trong chương trình Apollo để lại những tấm gương phản xạ trên bề mặt của Mặt Trăng. Sau đó, các chùm tia laser được chiếu từ Trái Đất, bật ra khỏi gương và quay trở lại, từ đó cho phép các nhà khoa học có thể đo được khoảng cách với sai số vô cùng nhỏ. Từ đầu những năm 1970, mỗi năm Mặt trăng lại di chuyển ra xa hơn 3,82 cm mỗi năm. Con số này nghe thì có vẻ không nhiều nhưng sau 40.000 năm, con số này sẽ là 1,5 km. Và nếu chúng ta có thể tua ngược đoạn băng này về 4,5 tỷ năm trước, chắc chắn là Mặt Trăng đã từng ở rất gần chúng ta.

Ở khoảng cách 24.000 km, có thể nói rằng Mặt Trăng lúc này là một gã khổng lồ thống trị bầu trời. Ngoài ra, các hoạt động núi lửa cũng diễn ra vô cùng mạnh mẽ, hoàn toàn đối lập với vật thể xám bạc và yên bình mà chúng ta thấy này nay. Bề mặt của nó chứa đầy magma đỏ rực cùng với các ngọn núi lửa sôi sục có thể dễ dàng nhìn thấy từ Trái Đất. Các quan sát thiên văn cũng sẽ là vô ích bởi vì không có ngôi sao hay hành tinh nào có thể được nhìn thấy dưới ánh sáng chói chang của Mặt Trăng sơ khai.
Trong không gian thì không có ma sát. Vì vậy, khi một vật thể đang quay thì nó sẽ tiếp tục quay trong hàng tỷ năm. Tổng năng lượng quay của bộ đôi Trái Đất và Mặt Trăng (mômen động lượng) bao gồm hai phần chính. Đầu tiên đó chính là chuyển động tự quay quanh trục của Trái Đất; Trái đất quay càng nhanh thì mômen động lượng của nó càng lớn. Thứ hai, mômen động lượng của Mặt Trăng phụ thuộc chủ yếu vào khoảng cách và tốc độ quay quanh Trái Đất của nó.
Tổng mômen động lượng trong chuyển động tự quay quanh trục của Trái Đất cộng với chuyển động của Mặt Trăng đã không thay đổi nhiều trong vài tỷ năm qua, nhưng “mức độ đóng góp” của hai chuyển động này đã thay đổi rất nhiều. Ngày nay, gần như tất cả mômen động lượng của bộ đôi này đều đến từ chuyển động của Mặt Trăng quay quanh Trái Đất ở khoảng cách 384.400 km với thời gian hoàn thành một vòng quay là 29 ngày. Trái Đất thì chỉ cần 24 giờ nhàn nhã để hoàn thành công việc này và chiếm một phần rất nhỏ trong tổng mômen động lượng (Điều tương tự cũng xảy ra đối với các hành tinh khí khổng lồ ở xa, mang gần như toàn bộ mômen động lượng của toàn Hệ Mặt Trời mặc dù Mặt Trời chiếm tới 99,9% khối lượng)
Nhưng vào 4,5 tỷ năm trước, mọi thứ lại trở nên rất khác so với những gì chúng ta biết ngày nay. Với Mặt Trăng chỉ cách Trái Đất 24.000 km, mômen động lượng của bộ đôi này nhanh một cách lố bịch, giống như một vận động viên trượt băng đang co tay lại gần cơ thể hơn để tăng tốc độ quay của mình. Lúc này, thời gian hoàn thành một vòng quay của Trái Đất là 5 giờ – tức là cứ sau 5 giờ thì Mặt Trời sẽ mọc một lần!
Một ước tính như vậy nghe thì có vẻ rất phi lý và dường như không thể kiểm chứng được, nhưng dường như các rạn san hô đã chứng minh được điều này. Tương tự như vòng sinh trưởng của cây, một số loài san hô có các đường sinh trưởng được ghi lại theo ngày. Ngày nay, các loài san hô hiện đại sẽ cho chúng ta thấy khoảng 365 đường sinh trưởng hàng ngày trong vòng một năm. Nhưng hóa thạch của các loài san hô cổ đại đến từ Kỷ Devon khoảng 400 triệu năm trước lại hiển thị hơn 400 đường sinh trưởng hàng ngày trong vòng một năm, ngụ ý rằng Trái Đất ắt hẳn đã phải quay nhanh hơn. Vào thời điểm đó, một ngày chỉ có 22 giờ và Mặt Trăng có lẽ đã ở gần Trái Đất hơn 16.000 km.
Một phép đo bổ sung khác là chúng ta có thể dựa vào các lớp trầm tích mịn. Các lớp xen kẽ giữa cát sáng màu (khi thủy triều lên cao) và bùn hoặc đất sét tối màu (khi thủy triều xuống thấp) đã ghi lại chu kỳ thủy triều hàng ngày, hàng tháng và hàng năm. Các nghiên cứu về nhịp điệu thủy triều từ những tảng đá 900 triệu năm tuổi ở Big Cottonwood Canyon, Utah, đã cho chúng ta biết về một thế giới khi một ngày trên Trái Đất chỉ kéo dài 18,9 giờ và có 464 ngày trong một năm. Khoảng cách giữa Trái Đất và Mặt Trăng khi đó được tính toán là hơn 350.000 km, cho thấy một tốc độ dịch chuyển ra xa khỏi Trái Đất rất giống với thời hiện đại – 3,91 cm mỗi năm.
Chưa có bằng chứng trực tiếp ghi lại các chu kỳ thủy triều của Trái Đất trong hơn một tỷ năm trước, nhưng chúng ta có thể tin tưởng rằng, khoảng 4,5 tỷ năm trước, mọi thứ còn điên rồ hơn rất nhiều. Bên cạnh việc Trái Đất chỉ có 5 giờ một ngày mà chuyển động của Mặt Trăng gần đó cũng nhanh hơn rất, rất nhiều: Mặt Trăng chỉ mất 84 giờ – tức là khoảng 3,5 ngày – để hoàn thành một vòng quay quanh Trái Đất.
Với việc xuất hiện và di chuyển trong quỹ đạo rất gần với Trái Đất, thủy triều lúc này đã trở thành một thế lực thống trị. Vậy thì thế lực này hoạt động như thế nào?
Đầu tiên, các loại đá trên Trái Đất và Mặt Trăng không phải là cố định và chắc chắn. Những loại đá này có thể bị uốn cong, đặc biệt là khi nóng chảy. Chúng phồng lên rồi xẹp xuống theo nhịp điệu của thủy triều. Mặt Trăng sơ khai cách bề mặt Trái Đất hơn 24.000 km đã tác dụng một lực thủy triều vô cùng lớn lên vật chất của Trái Đất. Cứ sau vài giờ, bề mặt đá nóng chảy của Trái Đất có thể phình ra hơn 1,5 km về phía Mặt Trăng, tạo ra ma sát cực lớn, tăng thêm nhiệt và do đó giữ cho bề mặt ở trạng thái nóng chảy lâu hơn nhiều so với trên một hành tinh không có vệ tinh đi kèm. Và lực hấp dẫn của Trái Đất cũng đã đáp lại, làm phồng bề mặt của Mặt Trăng và phá huỷ hình cầu hoàn hảo của vệ tinh này. Và những tác động này chính là câu trả lời cho câu hỏi tại sao Mặt Trăng lại di chuyển ra xa khỏi Trái Đất.
Trước hết, mômen động lượng luôn luôn được bảo toàn – tức là tổng năng lượng quay của Trái Đất và năng lượng quay của Mặt Trăng luôn luôn không đổi. Khoảng 4,5 tỷ năm trước, cứ sau vài giờ lại có một đợt thủy triều lớn quét qua Trái Đất. Do chuyển động tự quay quanh trục của Trái Đất nhanh hơn rất nhiều so với chuyển động của Mặt Trăng xung quanh Trái Đất (Trái Đất hoàn thành một vòng tự quay quanh trục sau 5 giờ; Mặt Trăng hoàn thành một vòng quay xung quanh Trái Đất sau 84 giờ), vật chất “phình ra” do thuỷ triều ở trên bề mặt Trái Đất luôn di chuyển trước Mặt Trăng và liên tục sử dụng lực hấp dẫn để kéo Mặt Trăng tiến lên cùng nó và khiến vật thể này chuyển động nhanh hơn một chút.



Ngược lại, Mặt Trăng cũng kéo phần phình ra của Trái Đất theo hướng ngược lại, do đó làm cho Trái Đất quay chậm hơn xung quanh trục của nó, làm cho khoảng thời gian một ngày trên Trái Đất dài ra hơn một chút. Và đây chính là nơi định luật bảo toàn mômen động lượng phát huy tác dụng: Mặt Trăng di chuyển càng nhanh thì nó phải càng phải ở xa Trái Đất hơn và thu được nhiều mômen động lượng hơn. Để bù lại, Trái Đất phải quay chậm hơn trên trục của nó để bảo toàn tổng mômen động lượng của hệ Trái Đất – Mặt Trăng.
Như vậy, sau khoảng 4,5 tỷ năm, chuyển động tự quay quanh trục của Trái Đất đã chậm lại từ 5 giờ/vòng xuống 24 giờ/vòng, trong khi Mặt Trăng đã di chuyển ra xa hơn (mất 1 tháng để chuyển động xung quanh Trái Đất) và thu được nhiều mômen động lượng hơn trong quá trình này.
Không phải mọi hệ thống hành tinh – mặt trăng đều phải tuân theo cốt truyện này. Nếu như chuyển động tự quay quanh trục của hành tinh chậm hơn chuyển động của mặt trăng xung quanh nó hiệu ứng hãm sẽ là không thể tránh khỏi: Phần phình ra trên bề mặt hành tinh sẽ chạy theo sau; mặt trăng sẽ di chuyển chậm dần, rơi về phía hành tinh và bị nuốt chửng.
Trong thời kỳ đầu, sự trao đổi trong momen động lượng của hệ Trái Đất – Mặt Trăng là nhanh hơn rất nhiều so với ngày nay. Sau khi Mặt trăng hình thành, cả hai thiên thể đều được bao bọc bởi các đại dương magma nóng bỏng, liên tục bị uốn cong và biến dạng. Các đợt thủy triều magma khổng lồ trên Trái Đất và Mặt trăng có lẽ đã khiến cho Mặt Trăng di chuyển ra xa từ vài mét đến hàng chục mét mỗi năm, ngay cả khi Trái Đất đã quay chậm lại so với tốc độ điên cuồng ban đầu.
Nhưng những tác động mạnh mẽ của những đợt thủy triều khổng lồ này không kéo dài được lâu: Khi khoảng cách Trái Đất – Mặt Trăng tăng lên gấp đôi thì độ lớn của lực hấp dẫn sẽ giảm đi 4 lần. Khi khoảng cách tăng lên gấp ba lần thì độ lớn của lực hấp dẫn sẽ giảm đi 9 lần.
Cuối cùng, vài triệu năm sau Vụ va chạm lớn (Big Thwack), bề mặt của cả Trái Đất và Mặt Trăng đều được “lát” một lớp đá đen cứng. Tuy nhiên, các tác động của “thủy triều cạn” – tức là Mặt Trăng có thể làm biến dạng đá trên Trái Đất – vẫn có tầm ảnh hưởng vô cùng lớn, dù không thể mạnh mẽ như các đại dương magma trước đó.
1. https://science.nasa.gov/moon/by-the-numbers/
2. https://en.wikipedia.org/wiki/History_of_Earth
4. https://en.wikipedia.org/wiki/Origin_of_the_Moon
5. https://en.wikipedia.org/wiki/Roche_limit
6. https://dlab.epfl.ch/wikispeedia/wpcd/wp/r/Roche_limit.htm#
7. https://www.columbiatribune.com/story/lifestyle/family/2015/09/09/the-birth-our-moon/21768195007/
8. Sách The Story of Earth: The First 4.5 Billion Years, from Stardust to Living Planet
